ỨNG DỤNG ONG KÝ SINH ĐỂ QUẢN LÝ SÂU HẠI

Home Forums Chuyên mục ỨNG DỤNG ONG KÝ SINH ĐỂ QUẢN LÝ SÂU HẠI

Viewing 1 post (of 1 total)
  • Author
    Posts
  • #1581
    Pham Tan Dat
    Moderator

    Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) có thể được hiểu đơn giản là quá trình thực hành các biện pháp sẵn có nhằm kiểm soát quần thể sâu hại ở mức không gây ảnh hưởng đáng kể cho năng suất cây trồng. Quá trình thực hành có thể chia thành ba giai đoạn chính: Phòng ngừa, Theo dõi, và Kiểm soát. Trong khi đa số nông dân chỉ đơn thuần thực hành Phòng ngừa bằng cách cày xới đất và chọn giống kháng sâu bệnh mà bước Theo dõi thường không được chú trọng. Khi sâu bệnh bùng phát, khâu Kiểm soát cũng chỉ dựa vào biện pháp hoá học là chính. Việc phun thuốc với liều lượng cao tuy mang lại hiệu quả diệt sâu nhanh chóng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ về sức khoẻ trực tiếp và dư lượng thuốc trừ sâu trong nông sản. Ngoài ra, thuốc hoá học cũng tiêu diệt những thiên địch có ích và tạo điều kiện cho sâu hại kháng thuốc bộc phát trở lại. Trong khâu Phòng ngừa, ngoài cày xới đất và chọn giống chống chịu hoặc kháng sâu bệnh còn có luân canh, xen canh, trồng cây phủ xanh, và tăng đa dạng sinh học. Đối với bước Kiểm soát, bên cạnh biện pháp hoá học còn có vật lý và sinh học đáng lẽ phải được ưu tiên trước nhất, trong đó ứng dụng ong ký sinh là một phần thuộc biện pháp sinh học. Tôi xin mổ xẻ các bước Phòng ngừa, Theo dõi, và Kiểm soát để thông tin đến các bạn ở những chương sắp tới. Trong phần này, nội dung chủ yếu xoay quanh một nhánh nhỏ của biện pháp sinh học, đó là sử dụng ong ký sinh. Việc ứng dụng ong ký sinh cũng giống như tất cả các biện phát kiểm soát sinh học khác, đều được chia thành ba loại chính: Tạo cân bằng tự nhiên, Tạo vùng bảo tồn sinh học và Tạo thiên địch với số lượng lớn.

    Tạo cân bằng tự nhiên được áp dụng khi một loại sâu hại mới được du nhập từ nơi khác hoặc nước khác vào và gây hại mùa màng, khi đó người ta sẽ truy tìm thiên địch của loài sâu này ở môi trường bản địa và thả thiên địch vào môi trường mới nhằm tạo thế cân bằng nhằm kiểm soát sâu hại lâu dài. Ví dụ, rệp sáp (Planococcus citri) có nguồn gốc từ miền nam nước Pháp, sau đó du nhập và gây hại đến rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có cả Ấn Độ và Việt Nam. Rệp sáp tấn công nhiều cây ăn quả (cây có múi, chanh dây), công nghiệp (cà phê, hồ tiêu), và cây hoa cảnh. Người ta phát hiện có loài ong ký sinh nguồn gốc từ Brazil (Leptomastix dactylopii) chuyên đẻ trứng vào bên trong cơ thể rệp sáp. Mỗi con ong cái có thể đẻ đến 80 trứng, ấu trùng ăn dần dinh dưỡng trong cơ thể rệp sáp và khi trưởng thành lại tiếp tục tìm rệp sáp để đẻ trứng. Loài ong này sau đó được đưa vào Ấn Độ và thả vào môi trường tự nhiên. Chẳng bao lâu sau, ong ký sinh làm cho quần thể rệp sáp giảm mạnh và trở về trạng thái cân bằng (Hình 1). Một ví dụ nữa về biện pháp Tạo cân bằng tự nhiên được ứng dụng để kiểm soát rệp phấn trắng (Aleurodicus dispersus) có nguồn gốc từ vùng Caribbean và Trung Mỹ. Loài rệp này du nhập vào Ấn Độ năm 1995 và gây hại trên nhiều đối tượng cây trồng như ổi, bơ, chuối, khoai mì, đu đủ, xoài và cả những cây hoa cảnh. Ở Trung Mỹ (môi trường bản địa của rệp phấn trắng) người ta nhận thấy có 2 loài ong ký sinh (Encarsia guadeloupae và Encarsia sp. nr. Meritoria) chuyên tấn công rệp phấn trắng. Hai loài ong này sau đó được du nhập vào Ấn Độ và bắt đầu tạo cân bằng tự nhiên để kìm hãm sự phát triển của quần thể rệp. Khi dịch rệp phấn trắng gây hại nặng, 2 loài ong này sẽ xuất hiện và tấn công tiêu diệt rệp sáp với tỉ lệ chết từ 29-70%, đôi lúc hơn 90%.

    Dạng thứ hai của kiểm soát sinh học là Tạo vùng bảo tồn sinh học, phương pháp này được thực hiện bằng cách thay đổi thiết kế trang trại, phương pháp canh tác và hệ thống cây trồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch đến sinh sống và góp phần kiểm soát sâu hại. Bên cạnh trồng xen canh những loại cây có hoa thích hợp để cung cấp thức ăn (phấn hoa, mật hoa) và nơi trú ẩn, việc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu cũng rất quan trọng để bảo vệ quần thể thiên địch. Việc trồng những cây có hoa nào để thu hút thiên địch cần phải được chọn lọc kỹ lưỡng, vì một số loại cây lại vô tình thu hút, cung cấp thức ăn cho cả sâu hại và tạo điều kiện cho chúng gây hại mạnh hơn. Một nghiên cứu năm 1979 ở bang Virginia của Mỹ đã chỉ ra rằng, việc trồng bông vạn thọ và những cây thuộc họ bạc hà xung quanh bắp cải sẽ không mang lại lợi ích mà còn làm tăng số lượng quần thể sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae (L.)), sâu tơ (Plutella xylostella (L.)), sâu đo (Trichoplusia ni (Hiibner)), sâu kéo màng (Hellula rogatalis (Hulst)). Ở Trung Quốc, nông dân trồng lúa thường trồng đậu nành hoặc mè (vừng) dọc theo bờ ruộng để kiểm soát rầy nâu. Những loài cây này đã được chứng minh thực nghiệm là có khả năng cung cấp thức ăn và nơi ở cho ong ký sinh và những thiên địch khác (như bọ xít mù xanh, Cyrthorinus lividipennis). Riêng đối với cây mè (vừng), nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cây này có khả năng thu hút, làm tăng tuổi thọ, tăng tỉ lệ đẻ trứng và tăng hiệu quả ký sinh của nhiều ong ký sinh rầy nâu (Anagrus nilaparvatae và Anagrus optabilis). Hơn nữa, hoa của mè (vừng) không mang lại lợi ích cho hai loài bướm sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis và Marasmia patnalis). Ngoài ra một số loại cây họ đậu (như đậu xanh, đậu que, đậu đũa, đậu rồng), khổ qua, mướp, bí rợ, ớt, dưa chuột, đậu bắp, rau nhái, cây thuộc họ cúc và hoa hướng dương cũng có thể trồng xen cũng rất hiệu quả. Tuy nhiên, một số nhóm cây trên cần giàn để leo, vô tình có thể tạo điều kiện cho chuột sinh sống. Nếu ruộng lúa gặp vấn đề với sâu đục thân, bên cạnh trồng mè (vừng) thu hút ong ký sinh, hai bên bờ ruộng đối diện có thể trồng cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides). Bướm sâu đục thân rất thích đẻ trứng trên cỏ này, nhưng sâu non khi sống trên cỏ Vetiver lại chết hơn 90% ở lần lột xác thứ hai và chết hoàn toàn ở lần lột xác thứ tư. Để kiểm soát sâu đục thân hại ngô, xen kẽ các hàng ngô nên trồng cây mật kê hoa nhỏ (Melinis minutiflora). Loài cây này tiết ra mùi hương xua đuổi bướm sâu đục thân vào đẻ trứng trên ruộng ngô, đồng thời mùi hương của cây còn thu hút ong ký sinh (Cotesia sesamiae) đến tấn công sâu đục thân.
    Bên cạnh trồng những cây phụ để thu hút ong ký sinh, hai nhóm cây chính cũng có thể được trồng xen kẽ nhau để tạo đa dạng sinh học. Một mô hình trồng xen giữa bắp cải và cây cà chua đã được chứng minh mang lại hiệu quả thu hút ong ký sinh giúp kiểm soát sâu tơ hiệu quả hơn so với chỉ trồng bắp cải đơn canh.

    Dạng thứ ba của kiểm soát sinh học là Tạo thiên địch với số lượng lớn, phương pháp này thường được các doanh nghiệp hoặc trang trại lớn đầu tư thiết bị công nghệ nhằm nuôi thiên địch với số lượng lớn (như ong ký sinh, bọ rùa, nấm ký sinh và cả nhện đỏ có ích), sau đó thả ra đồng ruộng và trang trại để kiểm soát sâu hại. Các công ty thường tạo thành những sản phẩm thương mại và bán cho nông dân, mặc dù ở Việt Nam chưa phổ biến. Mặc khác nông dân có thể tự nhân một số thiên địch dễ nuôi với số lượng lớn và thả ra ruộng theo chu kỳ để kiểm soát sâu hại. Ví dụ ở Ấn Độ, nông dân sử dụng ong ký sinh thuộc chi Trichogramma thả ra ruộng tiêu diệt sâu đục thân hại lúa với mật độ 100 000 con ong/hecta, mỗi vụ lúa áp dụng hai lần cho hiệu quả diệt sâu tốt. Ở Việt Nam, bọ dừa (Brontispa longissima Gestro) bắt đầu xuất hiện và gây hại nặng cho các hộ nông dân trồng dừa ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1999. Một loại ong ký sinh Asecodes hispinarum (nguồn gốc từ đảo Samoa, do đại học Nông Lâm nhập về) đã được chi cục bảo vệ thực vật phối hợp cùng bà con nông dân ở nhiều tỉnh như Bến Tre, Vĩnh Long, Phú Yên, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang nhân giống và sử dụng để kiểm soát bọ dừa, có nơi mang đến hiệu quả hơn 90% tính từ năm 2002. Hiện nay phương pháp nhân giống để Tạo thiên địch với số lượng lớn vẫn được nông dân nơi đây áp dụng và ước tính đã cứu hơn 4,5 triệu cây dừa trong giai đoạn dịch bọ dừa bùng phát. Phương pháp nhân giống đơn giản được nông dân áp dụng bao gồm các bước sau:
    1. Thu gom 100 ấu trùng bọ dừa tuổi 4 cho vào hộp nhựa (rộng & dài khoảng 20 cm), bỏ vào hộp nhựa một ít là dừa non làm thức ăn cho ấu trùng. Ấu trùng nhỏ hơn tuổi 4 vẫn có thể sử dụng được, nhưng cho tỉ lệ phát triển thành ong trưởng thành thấp hơn.
    2. Lấy 10 con nhộng bọ dừa đã nhiễm ong ký sinh cho vào hộp nhựa. Nguồn nhộng chứa ong ký sinh được cung cấp miễn phí từ các chi cục bảo vệ thực vật địa phương. Khi nắm quy trình và quen với hình dạng của nhộng đã nhiễm ong ký sinh, nông dân có thể tự nhân và giữ giống hoặc thu gom nhộng nhiễm ong ký sinh ngay trong vườn dừa của mình.
    3. Dùng giấy thấm hoặc bông gòn tẩm một ít mật ong pha loãng cho vào hộp để làm thức ăn cho ong ký sinh khi nở.
    4. Đặt một lớp vải phủ lên hộp nhựa và đậy nắp lại. Khi thấy lá dừa non bị ăn sắp hết thì nên thay lá mới ở tuần đầu.
    5. Trong vòng hai tuần, ong ký sinh nở ra từ nhộng sẽ tấn công 100 ấu trùng bọ dừa. Dễ nhận thấy bằng mắt thường khi ấu trùng bọ dừa chuyển thành hồng, rồi sau đó thành đen.
    6. Sau hai tuần, những ấu trùng (giờ đã là nhộng) chuyển thành màu đen được đưa vào chai nhựa có đục 4-5 lỗ (đường kính khoảng 1 cm) và treo lên cây dừa. Khi ong ký sinh nở, sẽ bay ra từ chai nhựa và giúp kiểm soát bọ dừa trong bán kính vài km. Tuỳ mức độ gây hại, số lượng nhộng chứa ong ký sinh có thể 20-100 cho mỗi hecta và sau một tháng lại tiếp tục phóng thích nếu mức độ bọ dừa gây hại nặng.
    Quy trình nhân nuôi ong ký sinh trên mặc dù giới hạn ở bọ dừa, nhưng về nguyên tắc thì giống nhau cho các loài ong ký sinh trên những đối tượng cây trồng khác. Hy vọng với thông tin trên, các nhà nghiên cứu và nông dân có thể tự sáng chế ra phương pháp nhân giống ong ký sinh riêng cho mình trên các đối tượng sâu hại khác.

    Tài liệu tham khảo
    Bach, C. E., & Tabashnik, B. E. 1990. Effects of nonhost plant neighbors on population densities and parasitism rates of the diamondback moth (Lepidoptera: Plutellidae). Environmental Entomology, 19(4), 987-994.
    Horgan, F. G., Ramal, A. F., Bernal, C. C., Villegas, J. M., Stuart, A. M., & Almazan, M. L. 2016. Applying ecological engineering for sustainable and resilient rice production systems. Procedia food science, 6, 7-15.
    Khan, Z. R., Ampong-Nyarko, K., Chiliswa, P., Hassanali, A., Kimani, S., Lwande, W. & Woodcock, C. M. 1997. Intercropping increases parasitism of pests. Nature, 388(6643), 631-632.
    Latheef, M. A., & Irwin, R. D. 1979. The effect of companionate planting on lepidopteran pests of cabbage. The Canadian Entomologist, 111(7), 863-864.
    Naranjo, S.E., Ellsworth, P.C., Frisvold, G.B. 2015. Economic value of biological control in integrated pest management of managed plant systems. Annual review of entomology, 60.
    Singh, S. 2004. Some success stories in classical biological control of agricultural pests in India. Asia-Pacific Association of Agricultural Research Institutions (APAARI); FAO.
    Zhu, P., Wang, G., Zheng, X., Tian, J., Lu, Z., Heong, K. L., … & Gurr, G. M. 2015. Selective enhancement of parasitoids of rice Lepidoptera pests by sesame (Sesamum indicum) flowers. BioControl, 60(2), 157-167.

    • This topic was modified 1 week, 3 days ago by Pham Tan Dat.
    • This topic was modified 1 week, 3 days ago by Pham Tan Dat.
    • This topic was modified 1 week, 3 days ago by Pham Tan Dat.
Viewing 1 post (of 1 total)
  • You must be logged in to reply to this topic.